Á Châu, Chiến tranh, Chính trị, Đời sống, Lịch sử, Văn hóa, Việt Nam, Xã Hội

Sử Việt: Những tướng lĩnh Trung Quốc nổi danh đã thất bại tại Đại Việt (Phần 2)

0 Comments

Gồm các tập 5,6,7

Liễu Thăng bỏ mạng ở Quỷ Môn Quan. Tập 5

Ảnh ghép minh họa.

Phi Hùng

Bài viết này không phải nhằm mục đích hạ thấp các tướng lĩnh đã từng có phen chiến bại trên dải đất Đại Việt, mà chỉ là mượn chút uy danh của họ để nêu bật lên sự huy hoàng của các tướng sĩ nước Nam…

Sau khi nhà Trần chiến thắng quân Mông Cổ một cách oanh liệt, nhà Hồ kế vị đã làm mất nước vào tay nhà Minh. Lần đầu tiên sau hơn 400 năm độc lập, nước ta một lần nữa phải trải qua 20 năm Bắc thuộc vô cùng đen tối và tủi nhục.

Thế nhưng, vật cực tất phản, “nhật nguyệt hối rồi lại minh”, sau khoảng thời gian u ám nhất chính là ánh bình minh huy hoàng. Sự quật khởi của triều đại Hậu Lê của Lê Lợi đã viết nên những trang sử oai hùng nhất của dân tộc chúng ta.

Phần 5: Liễu Thăng (?-1427)

Tên Hán: Liễu Thăng (柳昇), tự Tử Tiêm (子漸).

Chức vụ:

Lần 1: Tả quân Đô đốc thiêm sự.

Lần 2 : Tổng binh Chinh Lỗ tướng quân Thái tử thái phó An Viễn hầu, chỉ huy cánh quân tiếp viện từ Quảng Tây.

Đối thủ chính:

Lần 1: nhà Hồ – cha con Hồ Quý Ly, Hồ Hán Thương, Hồ Nguyên Trừng.

Lần 2: Lê Lợi, Nguyễn Trãi, Lê Sát, Lê Nhân Chú.

Bị đánh bại tại: trận Mã Yên ải Chi Lăng, bị chém đầu bởi nghĩa quân Lam Sơn.

Dòng dõi nhà binh, sự nghiệp đang lên

Liễu Thăng là người huyện Hoài Ninh, phủ An Khánh (nay là thành phố An Khánh, tỉnh An Huy). Cha Liễu Thăng là một võ tướng nhỏ, từng theo phò tá Minh Thái Tổ. Vì vậy, từ trẻ Liễu Thăng đã được tập ấm cha, giữ chức Yên Sơn hộ vệ bách hộ qua đến đời Minh Huệ Đế.

Trong loạn Tĩnh Nan, Liễu Thăng tham gia đội quân của Yên vương Chu Đệ, tham chiến hơn 20 trận lớn nhỏ. Khi Chu Đệ giành được ngôi đế, Liễu Thăng được xét công, thăng đến chức Tả quân Đô đốc thiêm sự (Theo Minh sử, cuốn 154).

Loạn Tĩnh Nan là cuộc nội chiến rất lớn kéo dài hơn 3 năm giữa Yên vương Chu Đệ và Minh Huệ Đế; chiến trường rất khốc liệt với hàng trăm nghìn quân tham chiến khắp cả Trung Quốc. Liễu Thăng tham gia hơn 20 trận lớn nhỏ, chứng tỏ ông là người có thực tài và kinh nghiệm chiến trường phong phú.

Theo Trương Phụ đánh chiếm An Nam, thăng lên Bá tước

Với tài năng quân sự sẵn có, thời thế chiến loạn chính là dịp để lập công phong hầu, Liễu Thăng may mắn được phái sang đánh nhà Hồ cùng với Trương Phụ. Đây là lần đầu tiên ông ta theo quân viễn chinh và đã chiến đấu rất thành công.

Khâm định Việt sử thông giám cương mục: Chính biên, quyển XII có chép:

“Tháng 9 năm 1406, khi đang là Tả quân Đô đốc thiêm sự, Thăng được lệnh theo Chu Năng, Trương Phụ đem quân tấn công nhà Hồ. Tháng 5 năm 1407, đem thủy quân truy đuổi tàn quân nhà Hồ tới cửa biển Kỳ La, Hà Tĩnh. Quân Minh lần lượt bắt được vua Hồ Quý Ly và các con Hồ Hán Thương, Hồ Nguyên Trừng.

Tháng 6 năm 1407, Thăng nhận lệnh Trương Phụ giao cùng Lỗ Lân dẫn giải cha con họ Hồ về Kim Lăng, được thăng chức An Viễn bá, mỗi năm được hưởng bổng lộc nghìn thạch”.

Thủy lục lập công, gia phong hầu tước

Cuộc đời binh nghiệp của Liễu Thăng sau khi đánh chiếm nước Nam cực kỳ thuận lợi, một phần cũng bởi tài năng của ông. Liễu Thăng là một tướng lĩnh không những tinh thông về lục quân mà còn có khả năng chỉ huy thủy quân khá giỏi.

Năm 1409, Liễu Thăng cùng Trần Tuyên đem thủy quân đi tuần biển, đến vùng biển Thanh Châu, phá cướp biển của người Nhật Bản, truy đuổi tới tận đảo Bạch Sơn thuộc Kim Châu, Liêu Ninh.

Cùng năm đó, Liễu Thăng tham gia quân Bắc chinh, đem quân bản bộ tấn công và đánh bại lãnh tụ người Mông Cổ là Arughtai (sử Minh chép là 阿魯台, tức A Lỗ Đài). Trong trận này, quân Liễu Thăng sử dụng súng Thần Cơ đánh thắng quân Mông Cổ.

Cũng cần nói thêm rằng súng Thần Cơ là loại vũ khí được trang bị cho một quân chủng đặc biệt của nhà Minh tên là Thần Cơ Doanh; đây là loại súng trường cá nhân nòng dài, tương tự súng hỏa mai ra đời sau này. Súng Thần Cơ vốn được Hồ Nguyên Trừng (con trai Hồ Quý Ly) chế tạo ra.

Sau chiến thắng trước quân Mông Cổ, Liễu Thăng được lên tước An Viễn hầu, bổng lộc tăng thêm 500 thạch. Minh Nhân Tông lên ngôi, Liễu Thăng được giao cai quản hữu phủ, hàm gia thêm thành Thái tử thái phó.

Nên mới nói, không có Trừng thì có lẽ cũng không có chuyện Liễu Thăng đánh thắng quân Mông Cổ và được phong hầu vậy. Có lẽ vì thế mà sau này Liễu Thăng phải trả hết những gì ông đã nợ người Nam và nước Nam chăng?

Tất toán nhân quả tại nước Nam

Con đường thăng quan của Liễu Thăng ‘phất’ nhanh như diều gặp gió kể từ khi đánh bại nhà Hồ. Nhưng lẽ đời có vay có trả, nhân quả công bằng, nên khi ông ta đem quân sang Đại Việt lần thứ hai thì một kết cục thảm khốc đã chờ đợi sẵn:

Ngày 18/9/1427, nhà Minh sai Tổng binh Chinh Lỗ tướng quân, Thái tử thái phó An Viễn hầu Liễu Thăng, Tham tướng Bảo Định bá Lương Minh, Đô đốc Thôi Tụ, Binh bộ thượng thư Lý Khánh, Công bộ thượng thư Hoàng Phúc, Thổ quan Hữu bố chính sứ Nguyễn Đức Huân đem hơn 10 vạn quân và 2 vạn ngựa đánh vào cửa Pha Lũy.

Trong khi đó, Chinh Nam tướng quân thái phó Kiềm quốc công Mộc Thạnh, Tham tướng Hưng An bá Từ Hanh, Tân Ninh bá Đàm Trung đem 5 vạn quân và 1 vạn ngựa đánh vào cửa Lê Hoa. Cả hai đều đã tới đầu địa giới Đại Việt.

“Sĩ tốt kén người hùng hổ, bề tôi chọn kẻ vuốt nanh;
Gươm mài đá đá núi cũng mòn, voi uống nước nước sông phải cạn”

Theo Lam Sơn thực lục, lực lượng nghĩa quân Lam Sơn lúc ấy có 5 vạn tinh binh; Lê Lợi điều tất cả những vị tướng giỏi nhất của mình tham gia chiến dịch này.

Tuy nhiên, theo Đại Việt sử ký toàn thư, tổng số quân của khởi nghĩa Lam Sơn lúc đó, theo lời Lê Lợi, là 35 vạn quân:

“Buổi đầu số quân của ta có mấy trăm người. Hiện nay có 35 vạn. Đợi khi phá được thành Đông Quan, sẽ cho 25 vạn người về nhà làm ruộng, chỉ để lại 10 vạn làm quân để đề phòng việc nước…”

Đây là lực lượng quân sự khổng lồ của một quốc gia đang thành hình với nòng cốt là 5 vạn tinh binh Lam Sơn.

Lại nói, Liễu Thăng khi ấy đang lúc xuân phong đắc ý, quan vận hanh thông dẫn quân sang nước Nam, tưởng rằng cũng như 20 năm trước lại lập công dễ dàng, thăng quan tiến chức, chứ đâu ngờ rằng mình đang đối diện với kẻ thù mạnh hơn rất nhiều lần.

“Quỷ Môn Quan, Quỷ Môn Quan
Thập nhân khứ nhất nhân hoàn”…

Tương truyền rằng, đấy là câu thơ mà binh lính phương Bắc thời xưa hay hát mỗi khi hành quân xâm lăng phương Nam phải qua cửa ải này. Trùng hợp thay, Liễu Thăng lại dẫn quân qua đúng Quỷ Môn Quan. Có lẽ nào, việc ông ta và toàn quân bị diệt là đã có định số.

Liễu Thăng Thạch, tương truyền sau khi Liễu Thăng bị Lê Sát chém cụt đầu đã hóa đá nơi đây (ảnh: Wikipedia).

Đại Việt sử ký toàn thư có chép:

“Lê Lợi họp với các tướng bàn rằng:

‘Giặc vốn khinh ta, cho là người nước ta nhút nhát, sợ oai giặc đã lâu, nay nghe tin đại quân sang, hẳn là ta rất hoảng sợ. Huống chi lấy mạnh nạt yếu, lấy nhiều lần ít đó là lẽ thường. Giặc không thể tính được hình thế được thua của người của mình, không thể hiểu được cơ vi qua lại của thời của vận. Vả lại, quân đi cứu nguy cấp phải lấy mau chóng làm quý, giặc nhất định phải hành quân gấp vội. Binh pháp có nói: Hành quân 500 dặm mà chỉ vội hám lợi thì sẽ què thượng tướng. Nay Liễu Thăng đến, đường sá xa xôi, quân lính tất mỏi mệt. Ta đem quân nhàn khỏe, đợi đánh quân mỏi mệt, nhất định sẽ thắng’.

Lê Lợi sai Lê Sát và chư tướng đem 1 vạn quân tinh nhuệ, 5 thớt voi, bí mật mai phục trước ở ải Chi Lăng để đợi quân Minh.

Quân Minh tiến đến cửa Pha Lũy, tướng Trần Lựu giữ cửa Pha Lũy, thấy quân Minh đến, lui giữ cửa Ải Lưu. Quân Minh tiến đánh, Trần Lựu lại bỏ cửa Ải Lưu lui về đóng ở Chi Lăng, Liễu Thăng thừa thắng đuổi theo, đi đến đâu cũng không ai dám kháng cự, càng tỏ ra mặt kiêu ngạo.

Để tăng thêm tính chủ quan khinh địch của giặc, Lê Lợi lại sai người đến quân môn của Liễu Thăng xin lập Trần Cảo [1], Liễu Thăng nhận thư không thèm mở xem, cứ dẫn quân thẳng tiến. Trần Dong nói với thượng thư Lý Khánh rằng:

‘Chí của Thống binh kiêu lắm rồi, quân địch quyệt trá lắm, biết đâu chúng không làm ra thế yếu để dử ta; huống chi trong sắc thư dặn rằng Lê Lợi chỉ chuyên dùng cách mai phục mà thắng, ta không nên khinh địch’.

Lý Khánh bảo với Liễu Thăng, Liễu Thăng không hề để ý”.

Chém đầu ở Mã Yên, kiêu binh tất bại

Chi Lăng là một thung lũng hẹp nằm giữa những dãy núi cao vút, có địa thế vô cùng hiểm yếu. Ải Chi Lăng (Lạng Sơn) là cửa ải xung yếu nhất trên con đường từ Pha Lũy đến Đông Quan với chiều dài khoảng 4 km. Từ xưa, ải Chi Lăng là con đường mà hầu như bất cứ đạo quân phương bắc nào cũng phải đi qua khi tiến đánh phương nam.

Phía bắc ải được mệnh danh là Quỷ Môn Quan, là nơi mà cả người phương bắc lẫn người phương nam đều ái ngại.

Phía nam ải Chi Lăng là Ngõ Thề, nơi mà những đạo quân người Việt qua các triều đại cất lên những lời thề quyết tử rồi bước vào trận chiến với giặc xâm lăng.

Phía tây ải là các núi đá vôi nằm cạnh dòng sông Thương.

Phía đông ải là hai dãy núi Thái Hòa, Bảo Đài.

Bên trong ải lại có năm ngọn núi Nà Sản, Mã Yên, Phượng Hoàng, Kỳ Lân, Hàm Quỷ chia cắt ải thành những con đường, thung lũng nhỏ. Nhiều nơi trong ải phải bắc cầu treo để đi qua những đầm lầy, thung lũng, khe suối.

Ngày 20/9 (tức mùng 10/10 dương lịch), quân Minh đánh ải Chi Lăng. Lê Sát, Lưu Nhân Chú bí mật sai tướng Trần Lựu ra đánh rồi vờ thua chạy để nhử Liễu Thăng vào sâu trận địa mai phục. Liễu Thăng đuổi theo Trần Lựu đến Ải Lưu và lại “thắng” nên càng tỏ ra chủ quan, khinh địch.

Trần Lựu trá bại quả thật cũng có bản lĩnh: có khi bại thật nhanh, càng về sau thì càng đánh kịch liệt rồi mới bại, nên càng làm Liễu Thăng chắc mẩm là sẽ lập đại công mà nhất quyết đuổi theo. Trần Lựu rút khỏi Ải Lưu, chạy về đến đầu cửa ải Chi Lăng chỗ núi Hàm Quỷ thì bỗng nhiên quay lại đánh tiếp một trận thật kịch liệt, rồi biến mất vào lòng ải. Điều này đã làm cho Liễu Thăng tức giận hơn bao giờ hết, hung hăng dẫn cánh quân tiên phong gồm hơn 1 vạn lính tinh nhuệ cùng 100 quân kỵ mã thân tín đi hộ vệ, bỏ lại đại quân ở phía sau, xông thẳng vào thung lũng.

Đoàn quân này vượt qua cầu treo tiến vào cánh đồng lầy bên dưới chân núi Mã Yên thì rơi vào trận mai phục. Từ mé sau quả núi Mã Yên giữa lòng ải và từ khắp chỗ ém quân mai phục trong thung lũng, hơn 1 vạn phục binh cùng 5 thớt voi trận và 100 chiến mã, dưới sự chỉ huy của các tướng Lê Sát, Lưu Nhân Chú, Đinh Liệt… nhất tề xông ra đánh phá dữ dội. Liễu Thăng trúng một mũi lao phóng, chết tại trận. Toàn bộ cánh quân tiên phong tinh nhuệ gồm hơn 1 vạn chiến binh và 100 kỵ sĩ hộ vệ chủ tướng cũng đều bị tiêu diệt sạch.

Đại quân 9 vạn phía sau vẫn còn ngơ ngác thì 1 vạn quân tiên phong cùng chủ tướng đã bay đầu thật nhanh và gọn gàng như chưa từng tồn tại. Đây cũng là một trận chiến điển hình cho chiến thuật mai phục bẻ gãy tiên phong, đánh tan nhuệ khí giặc của quân Lam Sơn, như Nguyễn Trãi đã viết trong “Bình Ngô Đại Cáo”:

“Ta trước đã điều binh thủ hiểm, chặt mũi tiên phong”.

“Đánh một trận sạch không kình ngạc; Đánh hai trận tan tác chim muông”

Mặc dù đoàn quân tiếp viện đến từ Quảng Tây vẫn còn nguyên bộ chỉ huy và 9 vạn quân, việc Tổng binh An Viễn hầu Liễu Thăng bị chém đầu ở trận Mã Yên đã dự báo kiếp số toàn diệt của đội quân này. Một loạt trận chiến tiếp theo đã chứng thực điều đó.
Lam Sơn thực lục chép rằng:

“Tì tướng quân Minh là Thôi Tụ, Hoàng Phúc thu nhập tàn quân, gượng tiến đến ải núi Mã Yên. Ngày 25 tháng 9, Lê Lợi sai Nguyễn Lý, Lê Văn An đem 3 vạn quân tới tiếp viện. Lê Sát, Lưu Nhân Chú tung hết quân ra đánh, chém Bảo Định bá Lương Minh tại trận, Binh bộ thượng thư Lý Khánh phải thắt cổ tự tử”.

“Thôi Tụ nghĩ rằng thành Xương Giang chưa bị hạ, vẫn tiếp tục kéo quân về hướng thành Xương Giang. Lê Sát mở đường cho tiến, chờ đến chỗ phục binh, mới tung quân đón đánh.

Trong trận Phố Cát, Lê Sát, Lưu Nhân Chú lại đánh bại quân Minh, chém được hơn 2 vạn người, bắt được lừa ngựa, trâu bò, quân tư khí giới nhiều không kể xiết”.

“Xương Giang, Bình Than, máu trôi đỏ nước”

Quân Minh tuy thua nhưng vẫn còn quân số đông và mạnh. Thôi Tụ dự tính vào thành Xương Giang làm nơi trú quân để phối hợp với Vương Thông, nhưng khi tiến đến gần Xương Giang mới biết là thành đã bị quân Lam Sơn hạ. Thôi Tụ phải đóng quân ngoài cánh đồng Xương Giang và xung quanh, cách thành Xương Giang khoảng 3 km, đắp lũy đất để phòng thủ. Lại cho quân bắn pháo làm hiệu để quân ở Đông Quan đến ứng cứu.

Quân Minh đóng quân ở một vị trí mà phía nam là thành Xương Giang kiên cố; phía tây bắc, tây và tây nam là sông Thương; phía đông nam có sông Lục Nam; phía bắc, quân của Lê Sát, Lưu Nhân Chú, Nguyễn Lý, Lê Văn An sau trận Phố Cát tiếp tục bám lưng đối phương. Quân Lam Sơn còn có các đơn vị thủy quân bố trí trên sông Thương và sông Lục Nam.

Trong tình thế đó, Lê Lợi sai các quân thủy, bộ cùng tiến quân bao vây; lại chia quân chặn hết các ải Mã Yên, Chi Lăng, Pha Lũy, Bàng Quan. Thôi Tụ và Hoàng Phúc muốn tiến cũng không được, muốn lui cũng không xong, bèn giả hoà, âm mưu chạy vào thành Chí Linh. Lê Lợi biết được quỷ kế của chúng, kiên quyết khước từ không cho hòa.

Lê Lợi sai Trần Nguyên Hãn chặn đứng đường vận chuyển lương thực của giặc; sai Lê Vấn, Lê Khôi đem 3 nghìn quân thiết đột, 4 thớt voi, cùng với quân của Lê Sát, Lưu Nhân Chú, Nguyễn Lý, Lê Văn An tấn công.

Sách Việt sử tiêu án viết rằng: “Gặp lúc có mưa gió to, người và ngựa chỉ trông nhau không đi được bước nào; Vương sai chư quân đến vây kín”.

Ngày 15/10/1427, hai quân giao chiến, quân Minh đại bại; nghĩa quân chém chết hơn 5 vạn thủ cấp, bắt sống Thôi Tụ, Hoàng Phúc và hơn 3 vạn người, thu được vũ khí, ngựa chiến, vàng bạc, vải lụa nhiều không kể xiết. Còn những kẻ chạy trốn thì trong khoảng chưa đến 5 ngày đều bị bọn chăn trâu kiếm củi bắt gần hết, không sót một ai.

Thôi Tụ không chịu đầu hàng, Lê Lợi sai giết đi. Còn Hoàng Phúc vì trước đã nhậm chức Bố chính, hơi được lòng dân, không nỡ gia hại. Hoàng Phúc xin tương kiến với Vương Thông để điều đình việc giảng hòa bãi binh.

Trận Xương Giang là trận chiến cuối cùng đặt dấu chấm hết cho toàn bộ cánh quân của Liễu Thăng. Đây là một trong những trận chiến thảm khốc nhưng oanh liệt nhất của toàn bộ cuộc chiến. Chỉ trong vòng 27 ngày đêm (từ ngày 8/10/1427 đến ngày 3/11/1427) mà có sự tham chiến của gần 20 vạn quân từ đôi bên trên một chiến tuyến khoảng 100 km. Trong trận chiến này, chủ lực của quân Minh sang tiếp viện bị thiệt hại gần như toàn bộ và không thể tham chiến nữa.

Tĩnh Thuỷ

Chú thích:

[1] Trước kia, quân Minh sang xâm lược nước ta dưới danh nghĩa “phù Trần diệt Hồ”. Trần Cảo là người mà Lê Lợi tìm và nói với quân Minh rằng sẽ lập lên làm vua để nối lại họ Trần, hàm ý rằng Lê Lợi chỉ là chỉ huy một đạo quân giúp nhà Trần phục quốc, mục đích là để làm mất đi hiệu lực danh nghĩa của cuộc chiến mà quân Minh lợi dụng xâm lược nước ta. Đây còn là chiêu bài ngoại giao nhằm làm quân địch chủ quan và đánh giá sai thực lực của nghĩa quân Lam Sơn, tạo một ảo giác cho Liễu Thăng về sự khiếp nhược của Lê Lợi trước quân uy của nhà Minh.

Tài liệu tham khảo:

Đại Việt sử ký toàn thư. Nhà xuất bản khoa học xã hội Hà Nội, 1993, bản điện tử, trang 351.
Đại Việt thông sử. Nhà xuất bản văn hóa thông tin, 1976, trang 79, 80, 240.
Khâm định Việt sử Thông giám Cương mục: Chính biên, quyển XII, XIII, XIV.
Lam Sơn thực lục. Nhà xuất bản Tân Việt, 1956, cuốn 2.
Minh sử: Liệt truyện, quyển 42, 145, 154, 321.
Việt Nam sử lược. Bản in của Bộ Giáo dục Việt Nam Cộng hòa năm 1971, tập 1, trang 232 và 233.
Việt sử tiêu án. Nhà xuất bản Văn Sử 1991, Phần Ngoại thuộc nhà Minh, bản điện tử.

Những tướng lĩnh nổi danh đã thất bại tại Đại Việt (P.6):

Mộc Thạnh mang nhục ở đất Nam

Phi Hùng

Ảnh ghép minh họa.

Vẫn biết rằng “thành bại là lẽ thường của binh gia” nên bài viết này không phải nhằm mục đích hạ thấp các tướng lĩnh lừng danh đã từng thất bại tại Đại Việt, mà chỉ là mượn chút uy danh của họ để nêu bật lên sự huy hoàng của các tướng sĩ nước Nam…

Sau khi nhà Trần chiến thắng quân Mông Cổ một cách oanh liệt, nhà Hồ kế vị đã làm mất nước vào tay nhà Minh. Lần đầu tiên sau hơn 400 năm độc lập, nước ta một lần nữa phải trải qua 20 năm Bắc thuộc vô cùng đen tối và tủi nhục.

Thế nhưng, vật cực tất phản, “nhật nguyệt hối rồi lại minh”, sau khoảng thời gian u ám nhất chính là ánh bình minh huy hoàng. Sự quật khởi của triều đại Hậu Lê của Lê Lợi đã viết nên những trang sử oai hùng nhất của dân tộc chúng ta.

Phần 6: Mộc Thạnh (1368-1439)

Tên Hán: Mộc Thạnh (沐晟) tự Cảnh Mậu (景茂).

Chức vụ:

Lần 1: Chinh Di phó tướng quân Tây Bình hầu.

Lần 2: Chinh Di tướng quân Kiềm quốc công.

Lần 3: Chinh Nam tướng quân thái phó Kiềm quốc công, tổng chỉ huy cánh quân tiếp viện từ Vân Nam kéo sang Đại Việt.

Đối thủ chính:

Lần 1: Nhà Hồ – cha con Hồ Quý Ly, Hồ Hán Thương, Hồ Nguyên Trừng.

Lần 2: Giản Định Đế, Đặng Tất, Đặng Dung, Nguyễn Cảnh Chân, Trùng Quang Đế.

Lần 3: Lê Lợi, Nguyễn Trãi, Phạm Văn Xảo, Trịnh Khả.

Bị đánh bại tại:

Trận Bô Cô (1408).

Trận Lãnh Câu – Đan Xá (1427).

Danh gia vọng tộc gốc Hồi nổi tiếng của Trung Quốc từ thời Nguyên đến nay

Vân Nam Mộc gia trấn thủ Vân Nam suốt mấy trăm năm thời Minh là một trong những danh gia vọng tộc lớn của người Hán. Họ Mộc Vân Nam vốn gốc người Hồi, là dòng họ người Nạp Tây, làm thổ ti xứ này trải ba triều đại, với 22 thế hệ, tổng cộng là 470 năm bắt đầu từ nhà Nguyên. Dòng họ này được triều Nguyên phong làm Thổ ti, sau đó quy thuận nhà Minh, được Minh Thái Tổ ban cho họ Mộc của người Hán, trở thành họ chính thức và từ đó họ cũng học theo văn hóa Hán. Tuy chỉ là Thổ ti, nhưng uy thế và sự giàu sang của họ Mộc không kém gì các bậc vương công, và phủ đệ còn vượt xa các vương phủ về độ rộng lớn huy hoàng.

Sang đến triều Thanh, họ Mộc vẫn còn trung thành với hậu duệ nhà Minh nên bị phế bỏ tước vị, Mộc phủ cũng dần hoang phế. Tuy nhiên, dòng dõi Mộc gia vẫn còn có uy thế đến tận khi thành lập Trung Hoa Dân Quốc (1911).

Ngày nay, địa danh Mộc Phủ Vân Nam vẫn còn là một trong những điểm đến du lịch nổi tiếng nhất, nằm trong số những vương phủ cổ xưa vừa được trùng tu khá nguyên vẹn.

Ngoài ra, nếu các bạn là “fan” hâm mộ của truyện kiếm hiệp Kim Dung thì chắc hẳn sẽ biết đến gia tộc họ Mộc này. Họ cũng góp một vài nhân vật trong tiểu thuyết Lộc Đỉnh Ký như tiểu quận chúa Mộc Kiếm Bình – sau này thành vợ của Vi Tiểu Bảo, và anh trai cô là Mộc Kiếm Thanh:

“Mao Thập Bát buông tiếng thở dài đáp:

Hễ là người từng trải giang hồ khi chạm trán với những nhân vật Mộc phủ Vân Nam tự nhiên phải tỏ lòng cung kính, đứng né bên đường nhường lối cho họ đi trước. Giả sử vừa rồi nếu họ có ý ra tay thật sự thì dù ta có muốn ngăn cản cũng không đủ bản lãnh”.

(Trích Lộc Đỉnh Ký, chương 8)

Con trai của Khai quốc công thần Kiềm Ninh vương Mộc Anh

Mộc Thạnh là con trai thứ hai của Kiềm Ninh vương Mộc Anh (1345-1392) – công thần khai quốc nhà Minh, nguyên gốc là người huyện Định Viễn, tỉnh An Huy.

Nhờ công lao chiến đấu và lòng trung thành, Mộc Anh được Minh Thái Tổ nhận làm con nuôi và ban cho họ Mộc là một họ của người Hán. Ông cũng là một trong số hiếm hoi các đại thần thoát khỏi cuộc thanh trừng thời Hồng Vũ. Năm 1381, Mộc Anh tham gia cuộc chinh phạt Vân Nam đánh đuổi tàn quân Nguyên và các lực lượng người Hồi theo nhà Nguyên còn cát cứ ở đây. Sau khi chinh phạt thắng lợi, Mộc Anh được triều đình nhà Minh cho cai trị Vân Nam. Con cháu Mộc Anh cũng được nối nghiệp này.

Mộc Thạnh tính cách giống cha, thích đọc sách và thận trọng trong lời ăn tiếng nói nên rất được Minh Thái Tổ quý mến. Mộc Thạnh tham gia vào quân đội, thăng dần lên Hậu quân đô đốc phủ thiêm sự, rồi Tả đô đốc, tước Tây Bình hầu (năm 1399), trấn giữ Vân Nam.

Địa danh Mộc Phủ Vân Nam được ví như Tử Cấm thành của phương nam (ảnh: Flickr).

Đánh bại nhà Hồ, phong tước Kiềm quốc công

Cũng giống như Liễu Thăng, An Nam có lẽ là nơi “đất lành” để Mộc Thạnh lập đại công và thăng quan phát tài.

Năm 1400, Hồ Quý Ly đoạt ngôi nhà Trần rồi nhường ngôi cho con là Hồ Hán Thương, dâng biểu báo nhà Minh là nhà Trần không còn người nối dõi tông đường.

Năm 1403, Bùi Bá Kỳ – tì tướng của Trần Khát Chân – chạy sang tố cáo cha con Quý Ly giết vua, cướp nước, lại có Trần Thiêm Bình tự nhận là con cháu nhà Trần.

Tháng 4 năm 1406, Minh Thành Tổ sai sứ giả hộ tống Trần Thiêm Bình về nước để làm vua, bị Hồ Hán Thương sai người đón đường giết đi. Thành Tổ liền lấy ngay cớ ấy, sai Mộc Thạnh cùng Chu Năng đem quân tấn công nước Đại Ngu nhà Hồ.

Tháng 9 năm 1406, Chinh Di phó tướng quân Tây Bình hầu Mộc Thạnh đem quân từ đường Mông Tự (tên huyện, thuộc phủ Lâm An, nay là châu tự trị Hồng Hà thuộc tỉnh Vân Nam), Lâm An (tiếp giáp với ải Lê Hoa châu Quy Hóa nhà Hồ, nay là Lào Cai), tiến quân đánh quan ải Phú Lệnh (thuộc tỉnh Tuyên Quang), kéo thẳng đến sông Thao. Còn Chu Năng từ Quảng Tây tiến sang, nhưng ốm chết dọc đường nên Trương Phụ thay thế. Hai cánh quân này hợp nhau tại sông Bạch Hạc.

Tháng 12 năm 1406, quân Minh do Trương Phụ và Mộc Thạnh chỉ huy đánh phá được thành Đa Bang, nhân đà thắng thế xuôi dòng chiếm lấy Đông Đô.

Tháng 2 năm 1407, Mộc Thạnh đánh cho quân nhà Hồ thua to ở sông Mộc Hoàn. Quân nhà Hồ rút lui, giữ cửa biển Đại An. Tháng 6 cùng năm, quân Minh bắt được cha con Hồ Quý Ly.

Mộc Thạnh cùng Trương Phụ rút quân về nước; đến năm 1408 được phong là Kiềm quốc công, bổng lộc 3.000 thạch.

Đại bại trận Bô Cô

Vừa mới thăng chức Kiềm quốc công thì ngay trong năm đó, Mộc Thạnh phải nếm quả đắng trên dải đất An Nam với chiến bại triệt để đầu tiên trong binh nghiệp. Đó là trận đại chiến Bô Cô với quân nhà Hậu Trần – Giản Định Đế và cha con Đặng Tất, Đặng Dung cùng tướng Nguyễn Cảnh Chân.

Bô Cô hay Bồ Cô là tên một bến đò thuộc xã Bồ Cô, nay thuộc huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định. Đại Việt sử ký toàn thư chép về trận đánh này như sau:

“Tháng 12, ngày 14, Quốc công Đặng Tất cả phá quân Minh tại Bồ Cô hãn. Bấy giờ nhà Minh sai Tổng binh Mộc Thạnh mang tước Kiềm quốc công, đeo ấn Chinh Di tướng quân, đem 5 vạn quân từ Vân Nam đến Bồ Cô, vừa khi vua Giản Định cũng từ Nghệ An tới, quân dung nghiêm chỉnh, gặp lúc nước triều lên gấp, gió thổi mạnh, sai các quân đóng cọc giữ và lên hai bên bờ đắp lũy. Thạnh cũng chia quân thủy, quân bộ cùng cầm cự. Vua cầm dùi đánh trống, hạ lệnh các quân thừa cơ xông đánh từ giờ Tỵ [khoảng 11 giờ] đến giờ Thân [16 giờ], quân Minh thua chạy, chém được Binh bộ thượng thư Lưu Tuấn, Đô ty Lữ Nghị, cùng quân mới, quân cũ đến hơn 10 vạn tên. Chỉ một mình Mộc Thạnh chạy thoát trốn về thành Cổ Lộng”.

Sử liệu từ Minh thực lục cũng xác nhận chiến thắng này, còn cho biết rõ hơn về lý lịch các tướng lãnh, quan lại cao cấp của nhà Minh tử trận, bản dịch như sau:

“Ngày 24 tháng 12, năm Vĩnh Lạc thứ 6 [9/1/1409]

Ngày hôm nay quan Tổng binh Giao Chỉ Kiềm quốc công Mộc Thạnh giao tranh với đầu đảng giặc Giao Chỉ, Giản Định, tại sông Sinh Quyết bị thua. Đô đốc thiêm sự Lữ Nghị, Binh bộ thượng thư Lưu Tuấn, Tham chính Giao Chỉ Bố chánh ty Lưu Dục đều chết.

Lữ Nghị người đất Hạng Thành, Hà Nam; khởi đầu giữ chức Bách hộ vệ Tế Dương. Thời Tĩnh Nan, Nghị theo chinh phạt mấy lần lập kỳ công, được thăng đến chức Đô chỉ huy đồng tri. Năm Vĩnh Lạc thứ ba thăng Đô đốc thiêm sự, cùng với Hoàng Trung luyện binh tại Quảng Tây; lại cùng mang binh đem cháu của An Nam vương là Trần Thiêm Bình về nước. Vì làm trái chiếu chỉ, nên Nghị không tránh được thất bại ở Kê Lăng; rồi được tha tội cho giữ nguyên chức tòng chinh, mệnh sung Ưng Dương tướng quân. Giao Chỉ bình, có công được giữ chức Đô ty Giao Chỉ. Nghị tính thâm trầm, dũng lược, đánh trận thâm nhập, bị hãm chết trận.

Lưu Tuấn người đất Giang Lăng, Hồ Quảng; đậu tiến sĩ năm Ất Sửu. Thời Hồng Vũ, giữ chức Chủ sự bộ Binh, rồi được thăng lên Tả thị lang bộ này. Thời Kiến Văn giữ chức Thị trung. Khi Thiên tử [Thành Tổ] tức vị, được thăng hàm Thượng thư. Tuấn cẩn thận, cần mẫn trong công việc, có mưu trí, giỏi ứng biến, nên được tín nhiệm. Trước đây quan Tổng binh chinh phạt Giao Chỉ, mệnh Tuấn tham mưu quân vụ, góp nhiều công ích, nên sau khi bình Giao Chỉ được ban thưởng. Rồi lại được cử sang Giao Chỉ để tham mưu quân vụ cho Thạnh. Thạnh bại, Tuấn bị vây, bèn thắt cổ tự tử.

Lưu Dục người Vũ Thành, Sơn Đông; xuất thân từ Lại khoa cấp sự trung, thăng Thông chính sứ ty tả thông chính, rồi đến chức Tả tham chính ty bố chánh Hà Nam. Sau được đổi đến Giao Chỉ giữ chức Hữu tham chính. Dục tính hà khắc, ít nói, thiếu ân, tuy nhiên làm việc giỏi, đến nơi nào thuộc lại và dân cũng đều sợ, đến nay cùng chết với Tuấn”.

Bắt sống Giản Định Đế

Thế nhưng, niềm vui đại thắng của quân ta kéo dài không lâu. Sau trận Bô Cô, nội bộ quân hậu Trần bị chia rẽ vì chủ trương của Đặng Tất và Nguyễn Cảnh Chân khác với Giản Định Đế. Nghi ngờ 2 tướng của mình muốn tạo phản, mấy tháng sau Giản Định Đế đã ra lệnh giết họ. Con của 2 tướng trên là Đặng Dung và Nguyễn Cảnh Dị tức giận bỏ đi phò Trần Quý Khoách lên ngôi vua, gọi là Trùng Quang Đế.

Tháng 7 năm 1409, do quân Minh thua, Anh quốc công Trương Phụ lại được cử đem 47.000 quân từ Chiết Giang, Giang Tây, Phúc Kiến, Hồ Quảng, Quảng Đông, Quảng Tây sang.

Vua Giản Định tuy được vua mới (Trần Quý Khoách) tôn làm Thái thượng hoàng, nhưng không có thực quyền, rồi chẳng bao lâu bị đạo quân của Trương Phụ tăng viện cho Mộc Thạnh truy kích và bắt sống.

Đánh bại Trùng Quang Đế

Trùng Quang Đế lên ngôi với sự trợ giúp của 2 tướng tài Nguyễn Cảnh Dị và Đặng Dung đã quyết chiến đến cùng với quân Minh. Dù cho sức yếu quân ít nhưng sự quả cảm và tài năng của tướng sĩ hậu Trần cũng khiến quân Minh đánh dẹp rất vất vả và thua một số trận.

Tháng 4 âm lịch năm 1413, Trương Phụ lại đánh vào Nghệ An; Trùng Quang Đế phải rút về Hóa Châu, sai Nguyễn Biểu làm sứ đi cầu phong. Nguyễn Biểu đến Nghệ An thì bị Trương Phụ bắt giữ, Nguyễn Biểu tức giận mắng Trương Phụ và bị Phụ giết chết.

Bước ngoặt chiến tranh xảy ra khi Thái phó Đại Việt là Phan Quý Hữu đầu hàng quân Minh, được một tuần thì chết. Trương Phụ cử con Quý Hữu là Phan Liêu làm tri phủ Nghệ An, và ban thưởng hậu hĩnh cho gia đình Liêu. Liêu bèn kể hết cho Phụ về thực lực các tướng, quân số của Trùng Quang Đế và địa thế Hóa Châu. Trương Phụ, Mộc Thạnh liền đem quân thủy bộ vào Hóa Châu, mất 21 ngày thì tới.

Tháng 9 âm lịch năm 1413, Nguyễn Súy dàn trận tại kênh Thái Đà, đánh nhau ác liệt với Trương Phụ. Nửa đêm, Đặng Dung dùng voi đánh úp dinh của Phụ, định nhảy lên thuyền Phụ bắt sống mà không nhận được mặt, Phụ nhảy lên thuyền nhỏ trốn mất, quân Minh tan vỡ quá nửa, thuyền chiến vũ khí bị đốt phá gần hết.

Thế nhưng, Nguyễn Súy không chịu hợp sức cùng Đặng Dung chiến đấu, mà quân thì còn rất ít. Trương Phụ thấy vậy bèn xua tàn quân phản công, thay đổi cục diện. Quân Đặng Dung tan chạy, ẩn nấp trong hang núi, không còn sức đánh lớn. Tháng 11 âm lịch năm 1413, Đặng Dung và Nguyễn Cảnh Dị định chạy sang Xiêm La thì bị quân Minh bắt.

Khi trông thấy Phụ, Nguyễn Cảnh Dị luôn mồm quát mắng: “Chính ta muốn giết mày, bây giờ lại bị mày bắt!”. Trương Phụ tức giận, giết Nguyễn Cảnh Dị. Trương Phụ chiếm được Tân Bình, Thuận Hóa, bèn đặt quan cai trị, điều tra dân số, làm sổ dân đinh và tâu xin vua Minh tăng cường quân trấn giữ.

Ngày 10 tháng 3 âm lịch năm 1414, Trùng Quang Đế chạy sang nước Lão Qua, Nguyễn Súy chạy sang châu Minh Linh, sau đều bị người của Phụ bắt. Người của Thuận Hóa cũng ra hàng, từ đó vương triều hậu Trần chấm dứt.

Tháng 4 âm lịch năm 1414, Trương Phụ thu quân về Đông Quan, sai người giải vua Trùng Quang, Đặng Dung và Nguyễn Súy về Trung Quốc. Giữa đường, Trùng Quang Đế nhảy xuống nước tự vẫn. Hai tể tướng Đặng Dung, Nguyễn Súy sau đó cũng đều tuẫn tiết.

“Bị ta chặn ở Lê Hoa, quân Vân Nam nghi ngờ khiếp vía mà vỡ mật!

Nghe Thăng thua ở Cần Trạm, quân Mộc Thạnh xéo lên nhau chạy để thoát thân”

Vương Thông bị quân của Lê Lợi vây khốn ở Đông Quan liền cấp báo lên triều đình. Nhà Minh cử Mộc Thạnh cùng Liễu Thăng đem quân sang cứu.

Tháng 3 năm 1427, Chinh Nam tướng quân thái phó Kiềm quốc công Mộc Thạnh cùng tham tướng Hưng An bá Từ Hanh và Tân Ninh bá Đàm Trung làm tả hữu phó tướng quân, theo đường Vân Nam tiến đánh cửa ải Lê Hoa. Thật đúng là:

“Thằng nhãi con Tuyên Đức động binh không ngừng

Đồ nhút nhát Thạnh, Thăng đem dầu chữa cháy

Đinh Mùi tháng chín, Liễu Thăng đem binh từ Khâu Ôn kéo lại

Năm ấy tháng mười, Mộc Thạnh chia đường từ Vân Nam tiến sang”.

(“Bình Ngô Đại Cáo” – Nguyễn Trãi)

Là một lão tướng dày dặn kinh nghiệm chiến trường tại Đại Việt và cũng từng đại bại, Mộc Thạnh rất cẩn thận chứ không tham công kiêu ngạo như Liễu Thăng. Ông ta dẫn quân vào nước ta nhưng đánh chắc, tiến chắc chứ không muốn tiến nhanh, ý cũng muốn coi kết quả của cánh quân Liễu Thăng rồi mới quyết định bước tiếp theo.

Thế nhưng, điều Mộc Thạnh không bao giờ ngờ đến là đối thủ của ông sau 10 năm không còn là một nhóm quân ô hợp mất nước mà đã là một đạo quân chính quy tinh nhuệ, với những tướng lĩnh không những tinh thông binh pháp mà còn lão luyện chiến trường và cực kỳ am hiểu tình hình quân Minh.

Họ biết tính cách của Mộc Thạnh như thế nên ưu tiên xử lý Liễu Thăng, còn mặt trận ải Lê Hoa thì chỉ cầm cự là chủ yếu. Và cứ như thế, Mộc Thạnh dần dần rơi sâu vào cái bẫy rập của quân Lam Sơn mà không hay biết, còn tự cho rằng cách đánh của mình là đúng.

Kết quả đến liền ngay sau đó: Liễu Thăng chết tại trận; cánh quân Quảng Tây bị đánh tan tác với 1 loạt chiến dịch liên tiếp. Đúng thật là:

“Lạng Giang, Lạng Sơn, thây chất đầy đường

Xương Giang, Bình Than, máu trôi đỏ nước

Ghê gớm thay! Sắc phong vân phải đổi,

Thảm đạm thay! Ánh nhật nguyệt phải mờ”.

(“Bình Ngô Đại Cáo” – Nguyễn Trãi)

Bình Định Vương Lê Lợi sai lấy 1 chỉ huy và 3 thiên hộ của quân Minh mà ta bắt được, cùng những sắc thư, phù ấn của Liễu Thăng đưa đến chỗ quân Mộc Thạnh.

Mộc Thạnh trông thấy rất hoảng sợ; trong phút chốc, quân tan vỡ tháo chạy. Quả thật không còn chút thể thống nào của vị Đại tướng Quốc công từng bắt sống 2 vua Đại Việt năm xưa. Ông ta và đoàn quân của mình đã phải trả giá hết cho những gì từng gây ra trên đất nước này.

Ban đầu, 2 tướng trấn giữ ải Lê Hoa là Trịnh Khả và Phạm Văn Xảo được lệnh cầm cự với Mộc Thạnh chứ chưa giao chiến lớn. Nhưng khi thấy quân Vân Nam muốn rút lui, 2 tướng đã nhân cơ hội tung quân tập kích mà lập nên chiến công lừng lẫy tại Lãnh Câu và Đan Xá:

“Suối Lãnh Câu máu chảy trôi chày, nước sông nghẹn ngào tiếng khóc

Thành Đan Xá thây chất thành núi, nhơ để ngàn năm”.

(“Bình Ngô Đại Cáo” – Nguyễn Trãi)

Khâm định Việt sử thông giám cương mục có chép:

“Trịnh Khả nhân quân sĩ đà đang sắc bén, tung quân ra đánh phá; chém hơn vạn thủ cấp, bắt được hơn 1.000 quân và hơn 1.000 ngựa. Mộc Thạnh chỉ kịp một người một ngựa chạy thoát”.

An Nam truyện trong Minh sử cũng chép:

“Mộc Thạnh kéo quân đến Thủy Vĩ, làm thuyền bè, sửa soạn để chực tiến quân. Được tin Thông đã nghị hòa, Thạnh cũng rút lui. Địch thừa thắng đổ ra đánh. Thạnh thua to”.

Theo Minh thực lục, ngày 14 tháng 12 năm 1427, Mộc Thạnh cùng thuộc hạ chạy tới Cao Trại, Thủy Vĩ thì bị quân Lam Sơn phục kích cả trên sông lẫn trên bờ, phải vất vả làm lại thuyền mới đi tiếp được.

Năm 1428, sau khi quân Minh rút về nước, Vương Thông cùng Trần Trí, Mã Anh, Phương Chính, Sơn Thọ, Mã Kỳ đều bị giam vào ngục, tịch thu gia sản nhưng Mộc Thạnh, Từ Hanh, Đàm Trung thì không bị Minh Tuyên Tông hỏi tội, mặc dù bọn Thạnh cũng bị triều thần Bắc Kinh hặc tội.

Như vậy, thất bại của vị Đại tướng Mộc gia uy danh lừng lẫy Trung Nguyên đã dệt thêm một trang sử vàng cho nước Việt. Quả đúng là:

“Một cỗ nhung y chiến thắng,

Nên công oanh liệt ngàn năm”.

Tĩnh Thuỷ

Tài liệu tham khảo:

Đại Việt sử ký toàn thư. Nhà xuất bản khoa học xã hội Hà Nội, 1993, bản điện tử, trang 351.

Đại Việt thông sử. Nhà xuất bản văn hóa thông tin, 1976, trang 79, 80, 240.

Khâm định Việt sử thông giám cương mục: Chính biên, quyển XII, XIII, XIV.

Lam Sơn thực lục. Nhà xuất bản Tân Việt, 1956, cuốn 2.

Minh sử: Liệt truyện, quyển 42, 145, 154, 321.

Việt Nam sử lược. Bản in của Bộ Giáo dục Việt Nam Cộng hòa năm 1971, tập 1, trang 232 và 233.

Việt sử tiêu án. Nhà xuất bản Văn Sử 1991, Phần Ngoại thuộc nhà Minh, bản điện tử.

Những tướng lĩnh nổi danh đã thất bại tại Đại Việt (P.7):

Vương Thông bó tay để đợi bại vong, giặc đã trí cùng lực kiệt

Phi Hùng

Ảnh ghép minh họa.

Vẫn biết rằng “thành bại là lẽ thường của binh gia” nên bài viết này không phải nhằm mục đích hạ thấp các tướng lĩnh lừng danh đã từng thất bại tại Đại Việt, mà chỉ là mượn chút uy danh của họ để nêu bật lên sự huy hoàng của các tướng sĩ nước Nam…

Sau khi nhà Trần chiến thắng quân Mông Cổ một cách oanh liệt, nhà Hồ kế vị đã làm mất nước vào tay nhà Minh. Lần đầu tiên sau hơn 400 năm độc lập, nước ta một lần nữa phải trải qua 20 năm Bắc thuộc vô cùng đen tối và tủi nhục.

Thế nhưng, vật cực tất phản, “nhật nguyệt hối rồi lại minh”, sau khoảng thời gian u ám nhất chính là ánh bình minh huy hoàng. Sự quật khởi của triều đại Hậu Lê của Lê Lợi đã viết nên những trang sử oai hùng nhất của dân tộc chúng ta.

7. Vương Thông (? – 1452)

Tên Hán: Vương Thông (王通)

Chức vụ: Tổng binh Thành Sơn hầu phụ trách Giao Chỉ.

Đối thủ chính: Lê Lợi, Nguyễn Trãi và các tướng lĩnh chỉ huy quân Lam Sơn.

Bị đánh bại tại: Tốt Động Chúc Động. Bị bao vây ở Đông Quan, đầu hàng Lê Lợi và Nguyễn Trãi qua hội thề Đông Quan.

Trong số các tướng lĩnh đã từng chinh chiến ở Đại Việt, Vương Thông có thể xem là một trong những người đánh nhau lâu và nhiều trận nhất với quân Lam Sơn. Nhưng bởi cầm binh ngay lúc quân Lam Sơn đang đà quật khởi, Vương Thông đã trở thành tổng binh đen đủi nhất của nhà Minh khi kéo quân sang xâm lược tại nước ta, với nhiều chiến bại thê thảm và một kết cục không lấy gì làm vinh quang lắm cho đời binh nghiệp của mình.

Dòng dõi binh gia, sự nghiệp đang lên

Vương Thông người Hàm Ninh, tỉnh Hồ Bắc, nối nghiệp cha là Vương Chân làm đô chỉ huy sứ; cha con đều theo binh nghiệp lập nhiều chiến công, đều được phong lên đô đốc. Sau khi cha mất, Vương Thông được ban tước Vũ Nghĩa bá, hưởng lộc nghìn thạch, được hưởng quyền thế tập.

Năm Vĩnh Lạc thứ 7 (1409), Vương Thông được giao cai quản công việc xây dựng Trường lăng (lăng mộ của Minh Thành Tổ). Năm Vĩnh Lạc thứ 11 (1413), ông được ban tước Thành Sơn hầu, lộc tăng thêm 200 thạch. Năm Vĩnh Lạc thứ 12 (1414), được cử làm Tả dịch đi tham chiến ở phía bắc. Khi Minh Nhân Tông lên ngôi, Vương Thông được giao quản hậu phủ, hàm gia thêm Thái tử thái bảo.

(Theo Minh sử liệt truyện, quyển 154)

Thành Sơn hầu Vương Thông – vị tổng binh cuối cùng của nhà Minh ở Giao Chỉ

Đối với nhiều tướng lĩnh nhà Minh trước năm 1420 thì sang Giao Chỉ quả thật là cơ hội hiếm có để lập công phong tước. Nhưng số phận Vương Thông lại không may mắn như vậy, ông ta được phái sang nước ta ngay lúc quân Minh thế lực đang yếu nhất và quân Lam Sơn ngày càng mạnh mẽ với nhiều chiến thắng liên tiếp.

Tháng 9 năm 1426, sau khi tổng binh tại Giao Chỉ (Việt Nam ngày nay) là Phong Thành hầu Lý Bân chết, Thái tử thái bảo Thành Sơn hầu Vương Thông được phong làm “Chinh Di tướng quân”, sang thay Trần Trí đảm nhiệm chức tổng binh, nắm quyền chỉ huy toàn bộ quân Minh trên lãnh thổ nước ta. Đô đốc Mã Anh được cử làm tham tướng. Những tướng lĩnh cũ là Trần Trí, Phương Chính, Thái Phúc… phần nhiều đều bị hạch tội, sung làm sự quan – chức quan dành cho những kẻ đang có tội nhưng tạm tha, cho tại chức để lập công chuộc tội.

Nhà Minh điều 5 vạn quân theo Tổng binh Vương Thông sang cứu viện cho bọn Trần Trí. Ngoài ra, còn bổ sung 1 vạn quân Minh dưới quyền tướng Vương An Lão từ Vân Nam tiến sang.

Với đoàn quân hùng mạnh trang bị đầy đủ, Vương Thông tự tin rằng sẽ đè bẹp quân Lam Sơn một cách dễ dàng. Khí thế ban đầu của quân tướng dưới trướng Vương Thông rất đáng gờm. Đại Việt sử ký toàn thư chép: “Quân giặc dàn doanh trại liền nhau đến vài mươi dặm, cờ xí rợp đồng, giáo mác rực trời, tự cho là đánh một trận là bắt hết được quân ta”.

Thế nhưng, quân Lam Sơn cho đến tháng 10 năm 1426 đã không còn là một toán quân nổi loạn nhỏ lẻ nữa mà đã trở thành một đạo quân chính quy hơn 20 vạn người với tinh thần sung mãn và sẵn sàng cao độ. Đây là lúc mà dân Việt thức tỉnh sau giấc ngủ dài hơn 130 năm. Họ đã trở lại là dân tộc từng phá Tống bình Nguyên như xưa. Đây mới là điều đáng sợ nhất đang đón chờ Vương Thông và đoàn quân nạp mạng của ông ta.

Tượng đài Lê Lợi, thủ lĩnh khởi nghĩa Lam Sơn (ảnh: Wikipedia).

“Ninh Kiều máu chảy thành sông, tanh trôi vạn dặm

Tốt Động thây chất thành núi, nhơ để ngàn năm”

Như đã nói ở trên, kết cục bại vong quả thật đã đến rất nhanh với Vương tổng binh và đoàn quân có vẻ “oai hùng” kia của ông ta. Đó chính là trận Ninh Kiều, hay còn gọi là Tốt Động Chúc Động, tiêu biểu cho nghệ thuật chiến tranh nổi tiếng của quân Lam Sơn:

“Thế trận xuất kỳ, lấy yếu chống mạnh,

Dùng quân mai phục, lấy ít địch nhiều”.

(Bình Ngô đại cáo – Nguyễn Trãi)

Cuối năm 1426, Vương Thông với 10 vạn đại quân chia làm ba đạo tiến đánh cánh quân của Lý Triện, Đỗ Bí tại Ninh Kiều. Vương Thông muốn thực hiện bao vây, diệt gọn toàn bộ lực lượng quân Lam Sơn của Lý Triện và Đỗ Bí ở tây Đông Quan, từ đó tiếp tục đánh tỏa ra. Hắn cho rằng quân của Trịnh Khả, Phạm Văn Xảo đang còn bận tay ở thành Tam Giang, nên Lý Triện và Đỗ Bí sẽ khó chống nổi đòn tổng lực của quân Minh.

Tuy nhiên, “binh vô thường thế, thủy vô thường hình”, bậc đại tướng cầm quân hơn nhau ở khả năng tùy cơ ứng biến. Khuyết điểm lớn nhất của Vương Thông là không nắm rõ tình hình địch và quá tự tin vào đạo quân của mình. Trong khi đó, các tướng lĩnh của Lam Sơn đều là thân kinh bách chiến, tinh thông binh pháp và cực kỳ am hiểu quân Minh. Quân của họ toàn là tinh nhuệ, trải trăm trận trong tình thế lấy yếu chống mạnh, lấy ít địch nhiều, thì tương quan lực lượng về quân số càng không có ý nghĩa gì.

Với phương châm “Ngồi đợi giặc không bằng đem quân ra trước để chặn mũi nhọn của giặc” của Lý Thường Kiệt thủa xưa, ngay lúc mà quân Minh đang triển khai thiết lập vòng vây thì Lý Triện, Đỗ Bí đã tung quân đánh trước. Ngày 5/11/1426, quân Lý – Đỗ tấn công cánh quân Sơn Thọ, Mã Kỳ là cánh quân mỏng yếu nhất trong ba cánh bao vây của quân Minh. Khi giao chiến, quân ta vờ tháo chạy dụ địch đuổi theo qua cầu Tam La, là chỗ bùn lầy khó đi. Thình lình phục binh nổi lên cùng voi chiến xông ra đánh tạt ngang vào đội hình quân Minh; hơn 1.000 quân Minh trong chốc lát đã bỏ thây tại trận. Sơn Thọ và Mã Kỳ hết sức kinh sợ, dẫn quân chạy ngược về thành Đông Quan.

Lý Triện và Đỗ Bí thừa thắng đem quân tiến đánh bọc hậu cánh quân của Phương Chính, Lý An hòng tạo ra sự tan rã dây chuyền trong hàng ngũ giặc. Nhưng Phương Chính và Lý An khi hay tin Sơn Thọ và Mã Kỳ bại trận đã kịp thu quân về thành.

Lúc này, Vương Thông với lực lượng đông đảo còn lại vẫn đóng tại Cổ Sở. Hay tin hai cánh quân đã bị quân Lam Sơn bức rút, Thông cho người vào thành lệnh cho toàn bộ số quân tướng đã rút về phải quay ngược trở ra, tập trung tại bến Cổ Sở ngay trong đêm 5/11/1426.

Bỏ kế hoạch bao vây, quân Minh chuyển sang tập trung quân để đánh thẳng căn cứ Ninh Kiều.

Lý Triện, Đỗ Bí liệu thế binh ít không chống nổi, cho đốt bỏ doanh trại ở Ninh Kiều, lui quân về giữ Cao Bộ, đồng thời cho người cấp báo với cánh quân của Đinh Lễ, Nguyễn Xí, Trương Chiến, Lê Hối đang đóng ở Tham Đàm đề nghị đem quân ứng cứu.

Quân của Đinh Lễ, Nguyễn Xí là đạo quân tinh nhuệ nhất trong các đạo quân Bắc tiến, gồm cả đội Thiết đột đặc biệt tinh nhuệ. Được tin, Đinh Lễ, Nguyễn Xí cùng các tướng tức tốc cho quân lên đường tiếp viện, hội quân ở Cao Bộ.

Nghĩa quân lại bắt được gián điệp của quân Minh, tra khảo ra được kế hoạch của giặc chia 2 đường tấn công, định đặt súng bắn vào phía sau quân ta, hễ nghe tiếng pháo thì các hướng quân Minh sẽ cùng tiến đánh mạnh. Do vậy, quân Lam Sơn đã đặt sẵn mai phục ở Tốt Động Chúc Động đợi giặc tiến vào sau tiếng súng. Vào một đêm tháng 11/1426, hai đạo quân Minh từ hai ngả tiến đánh Cao Bộ. Đạo kỳ binh giặc tiến qua Chúc Động, chính binh của Vương Thông thì gần đến Tốt Động.

Khoảng canh năm, quân ta chủ động cho phát pháo. Vương Thông tưởng đạo kỳ binh đã tiến vào thuận lợi, thúc quân tiến gấp để phối hợp. Chờ giặc lọt vào trận địa mai phục ở Tốt Động, phục binh Lam Sơn bốn bề nổi lên tấn công kịch liệt.

Trời mưa khiến đường sá lầy lội, người ngựa quân Minh bị mắc lầy, trước sau không ứng cứu được nhau. Quân Lam Sơn thừa thế tấn công, tượng voi từ Cao Bộ xông tới băm nát đội hình hành quân của giặc. Ở phía Chúc Động, đạo kỳ binh cũng trúng mai phục và thiệt hại nặng nề. Vương Thông hết đường chống đỡ, cùng quân tướng mạnh ai nấy chạy, giẫm đạp cả lên đồng đội. Đến Ninh Kiều, giặc tranh nhau qua cầu, rơi xuống sông chết đuối nhiều vô kể. Binh bộ thượng thư nước Minh là Trần Hiệp, Nội quan Lý Lượng, Đô chỉ huy Lý Đằng đều chết trong đám loạn quân. Vương Thông cũng bị thương, may sao thoát được. Các tướng Minh khác là Mã Kỳ, Mã Anh, Sơn Thọ… ai nấy đều cắm đầu chạy thục mạng về thành Đông Quan, đóng cửa thành cố thủ.

Nghĩa quân Lam Sơn tiến quân ra Bắc (ảnh: Wikipedia).

Nhận tin chiến thắng, Lê Lợi đích thân dẫn đại quân và 20 thớt voi chia hai đường thủy, bộ ngày đêm đi gấp. Quân ta lần lượt chiếm các mục tiêu chung quanh thành Đông Đô, rồi bắt đầu vây thành này. Để chặn đường tiếp viện, cũng như làm suy yếu tinh thần quân Minh đang bị vây, Lê Lợi sai các tướng chiếm lĩnh các thành trì nằm trên trục lộ huyết mạch như thành Điêu Diêu, Thị Cầu, Tam Giang, Xương Giang, Khâu Ôn.

Thế lực quân Minh lúc này bị co cụm lại, Vương Thông tại thành Đông Quan sa vào tình thế tuyệt vọng, đành phải giao lại đất đai từ Thanh Hóa trở vào nam cho Lê Lợi và ra lệnh quan quân đóng tại các nơi này phải rút lui về thành Đông Quan gấp.

Đây là một trận chiến rất lớn với thiệt hại nặng nề cho quân Minh, tạo nên bước ngoặt cho chiến tranh; vì thế nên có rất nhiều ghi chép trong sách sử của cả 2 bên Việt – Trung.

Nam Việt truyện chép như sau:

“Bảy vạn người không còn sót ai”, có thể hiểu là tất cả bảy vạn quân Minh đã bị chết hoặc bị bắt.

Khâm định Việt sử thông giám cương mục cũng chép:

“Quân Minh cùng giày xéo chồng chất lên nhau, chết đến hơn 5 vạn. Số quân địch chết đuối cũng rất nhiều, làm nghẽn cả khúc sông Ninh Giang”.

Minh thực lục thì ghi rằng:

“Ngày 9 tháng 11, năm Tuyên Ðức thứ nhất [7/12/1426] quan Tổng binh Thành Sơn hầu Vương Thông tiến binh đánh giặc bị thua to, giặc bèn vây thành Đông Quan.

Trước đó tướng giặc Lê Thiện [Triện] chia quân làm 3 đạo, tới đánh thành Giao Chỉ. Một đạo từ cửa phía tây đánh vào thành đất Thanh Oai, một đạo từ Giáo Trường đánh Hạ Quan. Bị Đô đốc Trần Tuấn dùng súng lửa, hỏa tiễn đánh lui. Một đạo đánh vào cửa nhỏ tại ven sông gặp Sự quan Lý An mang quân tinh nhuệ giao chiến, giặc bị chết rất nhiều, nửa đêm bèn rút lui.

Lúc này Thông điều quân chia đường mà tiến. Tham tướng Đô đốc Mã Anh mang quân đến Thanh Oai gặp giặc, đánh bại chúng. Rồi đến huyện Thạch Thất họp quân với Thông, cả hai mang quân đến huyện Ứng Bình, trú quân tại Ninh Kiều. Các tướng nói đất này hiểm trở nên lập trại để xem tình hình, không nên coi thường mà tiến. Thông không nghe, cho điều quân qua cầu, đường sá lầy trơn, người ngựa lặn lội, phục binh nổi lên, quan quân bị bại.

Thượng thư Trần Hiệp chết, Chỉ huy Lý Đằng bị chết vào tay giặc, Thông trúng thương nên quay về. Lê Lợi tại Nghệ An nghe tin bèn mang đại quân tới Thanh Đàm, đánh các xứ tại Bắc Giang, rồi vây thành Đông Quan”.

“Bó tay để đợi bại vong, giặc đã trí cùng lực kiệt,

Chẳng đánh mà người chịu khuất, ta đây mưu phạt tâm công”

Trận thua Ninh Kiều tuy nặng nhưng mới chỉ là mở màn cho tấn bi kịch của Vương Thông. Khi Lê Lợi đem quân từ Thanh Hóa ra và bao vây thành Đông Quan tầng tầng lớp lớp, đến con ruồi cũng không bay lọt, sự thống khổ của Vương Thông mới thực sự bắt đầu.

Vương Thông bị vây bức trong nội thành vẫn chỉ huy quân tướng cố sức chống giữ mãnh liệt. Nhưng quân Minh đã bị cô lập, lại chịu sự tấn công dồn dập của quân Lam Sơn nên dần hết khí giới, đạn dược. Tình thế nguy khốn đến mức Vương Thông đã hạ lệnh cho nấu chảy chuông Quy Điền và vạc Phổ Minh – hai trong bốn thứ bảo vật được tôn vinh là “An Nam tứ đại khí” để đúc súng đạn. Quân Minh ở thành Đông Quan ngày đêm tăng cường đào hào đắp lũy, gia cố tường thành. Vì lương thực trong thành còn dồi dào và tường thành vững chắc, nên giặc còn hy vọng cố thủ chờ viện binh sang cứu.

Lúc này, ngoài thành Đông Quan ra thì quân Minh vẫn còn cố thủ ở 12 thành trì kiên cố khác là Thuận Hóa, Tân Bình, Nghệ An, Diễn Châu, Tây Đô, Cổ Lộng, Điêu Diêu, Tam Giang, Thị Cầu, Xương Giang, Chí Linh và Khâu Ôn; nhưng tất cả đều đã bị bao vây cô lập.

Lúc này quân đội Lam Sơn đã đông đến hơn 35 vạn quân, nhưng sách lược của họ là bảo toàn lực lượng và chiến thắng với cái giá phải trả thấp nhất. Đó là bởi vì quân Lam Sơn không biết nhà Minh có còn lá bài nào muốn “nướng” nữa hay không, hơn nữa chiến thắng mà cả đất nước tan hoang thì cũng không có ích lợi gì cho sự phát triển về sau.

Dần dần, Vương Thông nhận ra rằng tình thế khó mà thay đổi, và việc bại vong của quân Minh chỉ còn là vấn đề thời gian. Một khi khí giới, lương thảo trong thành cạn kiệt, quân Minh chỉ còn đường chết đói hoặc bị giết. Đúng là:

“Quân giặc các thành khốn đốn, cởi giáp ra hàng

Tướng giặc bị cầm tù, như hổ đói vẫy đuôi xin cứu mạng”.

(Bình Ngô đại cáo – Nguyễn Trãi)

Trước tình thế đó, Vương Thông đã phải tính đường nghị hòa. Thông phái thái giám Sơn Thọ đem thư đến cho Lê Lợi, xin được hòa hoãn để rút binh về nước. Nhận được thư xin hòa, Lê Lợi nói: “Không đánh mà khuất được quân của người, ấy là mưu hay nhất trong các mưu hay!” (Theo Lam Sơn thực lục). Việc giảng hòa và thư từ qua lại với quân Minh được Lê Lợi giao phó cho Hàn lâm viện thừa chỉ Nguyễn Trãi lo liệu.

Nguyễn Trãi biên thư trả lời Vương Thông rằng:

“Tôi nghe, trời đất đối với muôn vật, nổi sấm sét mà ý hiếu sinh vẫn có ở trong; cha mẹ đối với các con, đánh roi vọt mà ơn dưỡng dục vẫn có ở đây. Nay vâng được thư của ngài cho tôi được tự tân, hân hạnh khôn xiết, thật không khác đức lớn của trời đất cha mẹ, dẫu có tan xương, nát thịt, cũng không đủ báo đền.

Song nếu ngài thực có lòng thương xót dân chúng, thì nên sai đầu mục đến các thành Diễn Châu, Nghệ An, Tân Bình, ra lệnh cho họ đem quân về, tôi sẽ lập tức sắm đủ phương vật tiến cống, cúi xin ngài sai quan cùng đi với tử đệ thân tín của tôi để đến đầu hàng phục tội. Cầu cống đường sá thì tôi xin nhận sửa đắp, không phải phiền đến quan quân. Giá được người nhận lời, không những sinh linh nước tôi được khỏi lầm than, mà binh sĩ Trung Quốc cũng khỏi nỗi khổ gươm giáo vậy” (Theo “Quân trung từ mệnh tập”).

Ý đồ của Nguyễn Trãi là nương theo binh uy của quân Lam Sơn để răn đe quân Minh về kết cục bại vong tất yếu, từ đó thuyết phục Vương Thông phải viết thư cho các thành trấn khác rút quân về Đông Quan để quay về nước, như thế quân ta không phải tốn xương máu đánh dẹp.

Việc dụ hàng diễn ra tương đối thuận lợi. Nhờ vào tài văn chương của Nguyễn Trãi và sách lược đúng đắn của Lê Lợi, hàng loạt các thành trì là Diễn Châu, Nghệ An, Tân Bình, Thuận Hóa đều mở cổng thành đầu hàng. Quân Lam Sơn giữ đúng giao ước, hễ quân tướng giặc ra khỏi thành đều được cấp thuyền bè, sửa sang cầu cống cho thuận lợi đến tập kết tại thành Đông Quan, lại còn cho đoàn tụ vợ con, cấp cho lương thực, thuốc men dọc đường đi.

Công lao của Nguyễn Trãi trong việc thuyết phục Vương Thông và dụ hàng các thành trì là rất lớn. Nhờ đó, ông ngày càng được Lê Lợi tin dùng và hậu thế luôn dành lời ca tụng. Học giả Bùi Huy Bích ở thế kỷ 18 đã nhận định về những văn thư mà Nguyễn Trãi làm trong công cuộc ngoại giao, địch vận là “có sức mạnh như 10 vạn quân”.

“Tưởng chúng biết lẽ ăn năn nên đã thay lòng đổi dạ

Ngờ đâu vẫn đương mưu tính lại còn chuốc tội gây oan”

Hai bên đã định ngày Vương Thông sẽ rút quân về nước thì ngụy quan là Trần Phong và Lương Nhữ Hốt kể chuyện Ô Mã Nhi ngày xưa bị giết để can. Vương Thông sợ, phái người về nước dâng thư xin vua Minh cử viện binh sang. Lê Lợi bắt được người đưa thư, bèn bỏ hòa ước đánh tiếp.

Vua Minh phái Liễu Thăng, Mộc Thạnh đem 15 vạn quân sang tiếp viện. Cả hai đạo quân này nhanh chóng bị tiêu diệt triệt để. Liễu Thăng mất đầu ở trận Mã Yên, gần như toàn quân và các tướng chỉ huy đều bị giết. Mộc Thạnh nghe tin Thăng thua cũng cuống cuồng rút quân, nhưng bị Trịnh Khả và Phạm Văn Xảo truy kích ở Lê Hoa, chém hơn vạn thủ cấp, toàn quân tan tác, Thạnh một mình một ngựa chạy về nước.

Đến lúc này thì Vương Thông đã hoàn toàn tuyệt vọng không còn cách nào khác nữa. Ông ta và nội quan Sơn Thọ nhà Minh sai viên thiên hộ họ Hạ mang thư đến giảng hoà, xin mở cho đường về. Lê Lợi chấp nhận, lại gửi tặng thổ sản và hải sản.

Tuy vậy nhưng Vương Thông vẫn do dự chưa quyết, đem hết quân trong thành ra đánh thử thời vận một lần nữa. Nghĩa quân Lam Sơn đặt phục binh rồi vờ thua chạy, quân Minh đuổi theo, tới trận địa phục binh thì bị đánh tan. Vương Thông ngã ngựa, suýt bị bắt, nghĩa quân tiến đến cửa Nam thành, đắp bờ lũy chống giữ. Lê Lợi thân đốc các tướng đem quân đắp lũy từ phường Yên Hoa thẳng tới cửa Bắc thành Đông Quan. Quân Minh chỉ dám ở trong thành không dám ra.

“Họ đã tham sống sợ chết mà hoà hiếu thực lòng

Ta lấy toàn quân là hơn, để nhân dân nghỉ sức”

Ngày 22/11 năm Đinh Mùi, Lê Lợi cùng các tướng lĩnh Lam Sơn và Vương Thông cùng tướng lĩnh nhà Minh làm hội thề ở cửa Nam thành Đông Quan.

Vương Thông hẹn rằng đến ngày 12/12 thì đem quân về nước và sai người đem tờ trình xin trả lại đất đai cho nghĩa quân. Lê Lợi sai giải vây thành Đông Quan, kéo quân lui về, lại sai giải vây cho 3 thành: Tây Đô, Cổ Lộng và Chí Linh; truyền cho nghĩa quân hộ tống các tướng trong 3 thành trên dẫn quân về thành Đông Quan, để cùng về Trung Quốc.

Ngày 29/11 năm Đinh Mùi, Lê Lợi sai Lê Thiếu Dĩnh, Lê Cảnh Quang đem tờ biểu cầu phong của Trần Cảo, cùng các vật phẩm theo viên chỉ huy do Vương Thông sai, sang triều Minh.

Các tướng sĩ, người dân căm tức sự tàn ngược của quân Minh, bảo vua đem giết đi; Lê Lợi đáp rằng:

“Trả thù báo oán là thường tình của mọi người, nhưng không thích giết người là bản tâm của bậc nhân đức. Vả lại, người ta đã hàng, mà mình lại giết thì là điềm xấu không gì lớn bằng. Nếu cốt để hả nỗi căm giận trong chốc lát mà mang tiếng với muôn đời là giết kẻ đã hàng, thì chi bằng tha mạng sống cho ức vạn người, để dập tắt mối chiến tranh cho đời sau, sử xanh ghi chép tiếng thơm muôn đời, há chẳng lớn lao sao?” (Theo Đại Việt sử ký toàn thư).

Tháng 12 năm Đinh Mùi, Lê Lợi ra lệnh cánh đường thủy cấp 500 chiếc thuyền cho Phương Chính, Mã Kỳ lãnh nhận; cánh đường bộ cấp lương thảo cho Sơn Thọ, Hoàng Phúc lãnh nhận; còn hơn 2 vạn người bị bắt hoặc đầu hàng và 2 vạn con ngựa thì do Mã Anh lãnh nhận. Chinh Man tướng quân Trần Tuấn đem quân trấn thủ đi theo. Tất cả đều tới dinh Bồ Đề lạy tạ mà về.

Ngày 12/12, Phương Chính, Mã Kỳ tới dinh Bồ Đề cáo biệt Lê Lợi, ở lại suốt một buổi chiều; Lê Lợi sai sắm trâu ngựa, trướng vẽ và lễ phẩm hậu tặng.

Ngày 17/12, Vương Thông dẫn quân bộ đi sau. Vương Thông cùng Lê Lợi nói chuyện từ biệt suốt đêm rồi đi. Vua sai đưa trâu rượu, cờ thêu, trướng vẽ cùng các lễ vật tiễn chân rất hậu. Quân thủy, bộ của ba thành Tây Đô, Cổ Lộng, Chí Linh cùng lục tục rút tiếp. Từ đây, việc binh đao dập tắt, khắp thiên hạ thái bình.

Thế mới là:

“Xã tắc từ đây vững bền

Giang sơn từ đây đổi mới

Càn khôn bĩ rồi lại thái

Nhật nguyệt hối rồi lại minh

Ngàn năm vết nhục nhã sạch làu

Muôn thuở nền thái bình vững chắc

Âu cũng nhờ trời đất tổ tông linh thiêng đã lặng thầm phù trợ”.

(Bình Ngô đại cáo – Nguyễn Trãi)

Tĩnh Thuỷ

Tài liệu tham khảo:

Đại Việt sử ký toàn thư. Nhà xuất bản khoa học xã hội Hà Nội, 1993, bản điện tử, trang 351.

Đại Việt thông sử. Nhà xuất bản văn hóa thông tin, 1976, trang 79, 80, 240.

Khâm định Việt sử thông giám cương mục: Chính biên, quyển XII, XIII, XIV.

Lam Sơn thực lục. Nhà xuất bản Tân Việt, 1956, cuốn 2.

Minh sử: Liệt truyện, quyển 42, 145, 154, 321.

Việt Nam sử lược. Bản in của Bộ Giáo dục Việt Nam Cộng hòa năm 1971, tập 1, trang 232 và 233.

Việt sử tiêu án. Nhà xuất bản Văn Sử 1991, Phần Ngoại thuộc nhà Minh, bản điện tử.

Tags from the story:
Written By

thoisu 02

Reply your comment

Your email address will not be published. Required fields are marked*